Hoang hoải khủng hoảng tuổi trung niên

Sau tuổi 40, hầu hết chúng ta đều bắt đầu lo lắng về những gì mình đã—hoặc chưa than. Còn tôi? Tôi đang học cách chấp nhận rằng cuộc sống còn nhiều thứ hơn việc trở thành một nhà văn nổi tiếng

By |
index-659d9f16b35c9
Ảnh: Getty Images

Tôi lần đầu thấy chữ “mid” trên mạng xã hội. Người ta bảo phim này mid, bài hát kia mid, rapper nọ cũng mid nốt. Vô số phim ảnh, bài nhạc, rapper và đủ thứ khác mà tôi không biết, tựa như hàng cây xa lạ trong khu rừng văn hóa đại chúng ngày càng rậm rạp, nơi người trẻ thong dong dạo bước còn tôi chỉ thấy mình lạc lối.

Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra: mid chẳng có gì tốt đẹp. Mid là xoàng xĩnh. Mid là nửa mùa, là chẳng ra gì, là “thôi cũng tạm”. Và rồi tôi chợt nhận ra—chính mình cũng mid.

Đại dịch ập đến khiến cái sự mid của tôi không thể chối bỏ được nữa. Trước đó, tôi vẫn tự nhủ mình trẻ hơn tuổi thật cỡ chục năm. Mà hễ nhìn mình ổn thì tự khắc cũng thấy ổn theo. Nhưng trong “thời đại của khẩu trang”, khuôn mặt kia đã bị che kín. Tôi chỉ còn thấy đôi mắt mình, với bao nếp nhăn, bao đường chân chim, cùng cặp bọng mắt mỗi năm một trĩu nặng. Trong khi người trẻ khoe khéo thanh xuân trên làn da căng mịn, tôi mỗi lần bắt gặp ánh nhìn của người khác lại giật mình nhận ra cái tuổi già đang lừ lừ kéo đến.

Hồi 40 tuổi, tôi từng run rẩy trước viễn cảnh tuổi già. Mà giờ nhìn lại mới thấy 40 sao trẻ thế. Thế nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ, ngay cái tuổi giữa chừng ấy, tôi chỉ mơ mỗi việc được làm tiểu thuyết gia, nhưng lại chẳng có lấy nổi một cuốn sách xuất bản. Tôi cũng chưa từng muốn làm cha – cái chức danh nghe như án tử. Nhưng rồi tôi cũng thành cha. Và cuộc đời tôi như đã biết cũng chấm dứt luôn từ đó.

Khi ấy, tôi đã 42 tuổi.

Tôi vừa hoàn thành bản thảo đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, và nhiệm vụ quan trọng nhất mỗi đêm là trông con, đảm bảo thằng bé còn thở. Từ khuya tới 3 giờ sáng, tôi vừa viết lại bản thảo vừa canh thằng bé ngủ say trong chiếc nệm nhỏ. Mỗi lần con động đậy, tôi vội nhét bình sữa vào miệng nó. Từ 3 đến 5 giờ sáng, khi mẹ nó tiếp quản việc chăm con, tôi chuyển sang uống “sữa” của mình—vài ngụm Scotch loại ngon, và tự hỏi: Mình thất bại rồi sao? Có xuất bản nổi cuốn sách này không? Mình thật sự đã già chưa? Làm sao để biết chính xác điều đó?

Thống kê chỉ ra tuổi trung niên trung bình của đàn ông Mỹ bắt đầu khoảng giữa tuổi 30, vì tuổi thọ trung bình chỉ tầm 73,5. Cả nước Mỹ xét ra cũng mid nốt, tuổi thọ còn thấp hơn Albania, cao hơn Croatia đôi chút. Đứng đầu bảng xếp hạng là Hong Kong với tuổi thọ 83,2. Có lẽ Mỹ tụt lại là do chế độ ăn đầy đường hóa học, cộng thêm việc thiếu bảo hiểm y tế toàn dân, và những vấn nạn xã hội dai dẳng như bất bình đẳng, trầm cảm, súng đạn cùng thuốc giảm đau gây nghiện.

Nếu tôi là người đàn ông Mỹ trung bình, vậy là tôi đã trung niên suốt 15 năm qua. Tôi thường tự nhủ không sợ chết. Nói thế thì dễ thôi, cho tới khi ta thấy bàn tay của người dẫn lối linh hồn đặt lên công tắc, sẵn sàng tắt ngấm cuộc đời ta. Tôi thú thật: khi cái bóng tử thần vừa chạm đến chân mình, tôi đã mua ngay một chiếc xe thể thao ở tuổi 43. Một chiếc Infiniti coupe xám, cũ kỹ, số tự động, là chiếc xe đẹp nhất tôi từng sở hữu nhưng vẫn rẻ hơn cả chiếc Honda Accord đời mới. Không phải xe thể thao đích thực, không phải Corvette, cũng chẳng màu đỏ. Nó thậm chí còn có hàng ghế sau đủ rộng để đặt ghế trẻ em và con trai tôi vào đó.

Ngay cả cơn khủng hoảng tuổi trung niên của tôi cũng “mid” nốt.

Khi tôi bảo với mọi người ở Los Angeles rằng tôi là nhà văn—KHÔNG AI QUAN TÂM. Và nếu không ai quan tâm, thì sao tôi phải bận lòng?

Tôi ngắm nhìn con trai mình—cậu nhóc đáng yêu ấy—đứa trẻ mang sẵn định mệnh sẽ giết tôi và soán ngôi tôi, ít nhất là theo nghĩa biểu tượng. Liệu nó có thể thoát khỏi số phận ấy không? Và liệu tôi có thoát nổi số phận của chính mình? Biết đâu nếu tôi đọc thêm sách cho con, dành thêm thời gian chơi cùng nó, đưa nó đến sân bóng chày nhiều hơn thì sao? May mắn thay, nó bỏ bóng chày chỉ sau một năm, nhưng rồi lại chuyển sang mê bóng đá bằng một niềm hăng hái lạ kỳ. Tôi mua giày, mua bọc ống chân cho nó, rồi ngồi nhìn thằng bé và đồng đội tập luyện, bên cạnh là chiếc ghế xếp sờn rách và cây dù xiêu vẹo che nắng cho đôi chân nhợt nhạt của tôi. Liệu đó có phải là hạnh phúc không? Một nhà văn nên làm những điều này sao?

Với tôi, đoạn giữa của một câu chuyện bao giờ cũng là phần khó viết nhất. Khởi đầu thì đã ở rất xa. Còn kết thúc—tôi cũng chẳng biết. Nhưng tôi tin chắc một điều: sẽ tốt hơn nếu người viết không biết trước cái kết. Bởi nếu chính tác giả còn bất ngờ với đoạn kết, thì độc giả hẳn cũng sẽ ngạc nhiên.

Bật mí nhỏ—người hùng trong truyện đã hy sinh.


Tôi từng nghĩ rằng viết lách chính là tấm vé đưa mình đến sự bất tử. Ai cần con cái làm gì khi chính những cuốn sách ta viết ra đã là hậu duệ của ta rồi? Những năm tuổi trẻ, tôi luôn khao khát danh vọng, muốn tỏa sáng rực rỡ. Tôi chẳng nghĩ nhiều đến việc rằng, những cái tên thật sự đi theo thời gian thực ra vô cùng ít ỏi, trong khi các thư viện thì chất đầy sách của vô số tác giả mà tôi chưa từng nghe tên, dù có thể họ từng rất nổi tiếng một thời. Thậm chí, có những nhà văn cách đây một hai thập kỷ còn lừng lẫy, nay đã gần như biến mất khỏi các cuộc trò chuyện văn chương, bởi sức sống của họ chẳng còn đủ mạnh để lay động thời đại nữa. Về phần tôi, nói về danh tiếng văn chương—thực ra cũng chẳng nổi tiếng gì cho lắm—tôi hơn vài người, nhưng chắc chắn thua rất nhiều người khác. Và mỗi lần định lên mặt tự phụ một chút, tôi lại mở ra xem những lời đánh giá một sao về sách của mình—”Được tâng bốc một cách khó hiểu!”, “Phi lý và phản cảm!”, “Rác rưởi đích thực!”—rồi nhớ ra rằng tôi đang sống không xa Hollywood là mấy. Ở Los Angeles, khi tôi nói mình là nhà văn, chẳng ai thèm quan tâm. Mà nếu chẳng ai quan tâm, thì việc gì tôi phải bận lòng?

Với tôi, có lẽ đó chính là tự do lớn nhất của việc là một người mid. Trung niên chưa chắc đã tầm thường, nhất là khi người ta cảm thấy mình vẫn đang ở đỉnh cao phong độ. Nhưng chấp nhận rằng những thành tựu lớn nhỏ của mình thực ra chẳng quan trọng gì mấy với đa số người đời, và rồi một ngày nào đó cũng sẽ chìm vào quên lãng, khiến mình trở thành mid, thậm chí bị quên lãng hoàn toàn—phải chăng điều đó thật ra lại rất nhẹ nhõm, thay vì đáng buồn?

Khi còn trẻ, tôi rất quan tâm người khác nghĩ gì về mình và những gì mình viết ra. Một phần trong tôi, vì vẫn là con người, nên bây giờ đôi lúc vẫn còn để ý. Nhưng phần lớn hơn trong tôi đã không còn bận tâm nữa. Lần đầu tiên tôi lờ mờ hiểu được cảm giác “không quan tâm” là khi tôi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay. Lúc ấy, tôi đã già so với một người mới tập tành viết tiểu thuyết. Trước đó, tôi từng viết một tập truyện ngắn và mong mỏi các biên tập viên, nhà xuất bản, đại diện văn học để mắt tới. Nhưng rồi tôi nhận ra, những người quyền lực ấy chẳng hề để ý đến cuốn sách của tôi, cũng như không quan tâm đến một kẻ trung niên như tôi. Và ngay lúc đó, tôi bỗng thấy mình tự do. Không cần quan tâm nữa. Tôi muốn làm gì thì làm, bởi vì tôi chỉ là một kẻ mid.

Ở tuổi mười mấy đôi mươi, thật khó để không quan tâm. Nhưng khi tôi nhìn con trai mình, từ lúc nó hai, ba rồi lên bốn tuổi, tôi thấy nó gần như hoàn toàn vô tư vô lo, ngoại trừ việc lo không biết mình có nhận đủ đồ chơi và bánh kẹo hay không. Nhưng mặt khác, nó hoàn toàn không để ý tới luật lệ, những kỳ vọng hay các chuẩn mực. “Rồi con sẽ biết thôi,” tôi thầm nghĩ một cách chua chát, “đời mà, ai chẳng vậy.”

Và có thể thằng bé rồi cũng sẽ cúi đầu trước biên giới trưởng thành. Nhưng rồi, khi mới năm tuổi, nó tự viết và vẽ nên cuốn truyện tranh đầu tiên của riêng mình, mang tên Chicken of the Sea, kể về những chú gà nổi loạn trốn khỏi nông trại để trở thành cướp biển, dưới quyền chỉ huy của một thuyền trưởng chuột. Tôi vô cùng sửng sốt. Câu chuyện đó tôi không bao giờ nghĩ ra nổi. Vì tôi luôn quan tâm đến những điều kiểu như thực tế. Thật hiện thực biết bao! Và cũng thật hạn hẹp biết chừng nào.

Vậy nên bây giờ, ở cái tuổi “mid” này, tôi cố hết sức không bận lòng về những chuyện vô nghĩa và những con người không quan trọng. Những người quan trọng—gia đình, bạn bè, con cái, người bạn đời—tất nhiên vẫn khiến tôi lo nghĩ. Viết lách cũng vậy, bởi với tôi đó vẫn là đam mê. Sau khi xuất bản một cuốn sách, tôi vẫn quan sát xem cuốn sách ấy được đón nhận thế nào, vì tôi vẫn là con người, dễ dao động trước khát vọng và phù phiếm. Nhưng khi đang đắm chìm trong quá trình sáng tạo, nghệ thuật mới là tất cả đối với tôi.

Kết quả là, chồng sách mang tên tôi ngày một cao lên, vượt xa số lượng con cái mà tôi có. Nhưng sách chẳng bao giờ cao hơn chúng, nặng hơn chúng, hay thậm chí có khi chẳng chất lượng bằng chúng. Nếu thời trẻ có ai bảo rằng tôi sẽ làm cha, sẽ yêu thích thiên chức làm cha, sẽ hết lòng yêu thương một đứa con gái và một đứa con trai mà khi đó tôi không hề muốn hay thậm chí chưa từng dám mơ tới, tôi sẽ chẳng bao giờ tin. Vì tôi tin rằng con đường của gia đình, ổn định, của sự chăm sóc và yêu thương cũng đồng nghĩa với sự tầm thường. Và có lẽ điều đó đúng thật. Nhưng cũng đúng không kém là, nếu câu chuyện của tôi kết thúc ngay lúc này, ngay giữa chừng này, tôi vẫn có thể sống—và có lẽ chết—với việc là một người mid. Không phải cái kết hạnh phúc nhất, nhưng đủ để tôi thấy mình hài lòng.

Và người ngạc nhiên nhất về điều đó, chắc chắn sẽ chẳng ai khác ngoài chính bản thân tôi.

Trích từ Esquire US Winter 2023/2024. Đọc bài viết gốc tại đây.

600x500
what to read next
600x500